Ca lâm sàng ho dai dẳng nghi ngờ do thuốc ức chế men chuyển ở bệnh nhân tăng huyết áp

Thảo luận trong 'Kiến thức cho dược sĩ lâm sàng, thông tin thuốc' bắt đầu bởi duochanoi, 6/5/15.

  1. duochanoi

    duochanoi Dược sĩ mới

    Bệnh nhân nam 65 tuổi, được theo dõi tim mạch định kỳ (1 lần/năm) bởi 1 bác sĩ tim mạch. Trong các đợt thăm khám, bác sỹ điều trì sẽ kiểm tra và cho tiếp đơn thuốc cho giai đoạn tiếp theo: Tahor 40 (atorvastatine), Coversyl 4 (perindopril) và Lodoz 2.5/6.25 (2,5 mg bisoprolol/6,25 mg hydrochlorothiazide). Vào tháng 2, bệnh nhân bắt đầu phàn nàn về những cơn ho khan xuất hiện về đêm khiến bệnh nhân khó ngủ kéo dài khoảng một tháng gần đây. Bệnh nhân đã sử dụng Aerius (desloratadin – kháng H1), sau đó là Xyzall (levocetirizin – kháng H1 thế hệ mới) và Helicidine (thuốc giảm ho) nhưng tình trạng ho không có nhiều cải thiện. Bệnh nhân quay trở lại nhà thuốc với 1 đơn thuốc gồm: Solupred 20 (prednisolone) và Hexapneumine (pholcodin – thuốc ho opiat phối hợp chlorphenamin – kháng H1).

    Lưu ý gì về đơn thuốc mới của bệnh nhân

    Để giảm ho, bác sĩ đã kê cho bệnh nhân các thuốc điều trị dị ứng, tuy nhiên trong trường hợp này, cần thiết phải xác định rõ nguyên nhân gây ho cho bệnh nhân.

    Phân tích ca

    Các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (IEC) từ lâu đã được biết đến về tác dụng phụ thường gặp là gây ho khan, cơn ho dai dẳng, vào ban ngày hoặc ban đêm, các biểu hiện này sẽ hết sau khi dừng thuốc một vài ngày. Ho có thể xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1 vài tuần đến vài tháng, sau khi bắt đầu điều trị. Ho được cho là hệ quả của tác dụng dược lý của thuốc, do gây tăng nồng độ, tác động của bradykinin trên đường hô hấp (bởi tác dụng ức chế men chuyển angiotensin). Một số bệnh nhân dễ bị ho hơn khi sử dụng các thuốc IEC so với các đối tượng khác, ví dụ trên những phụ nữ không hút thuốc lá.

    Danh sách các thuốc có thể gây ho

    [​IMG]

    Xử trí:

    Bác sĩ điều trị của bệnh nhân đã được liên hệ để đề xuất thay thế thuốc Coversyl bằng một thuốc hạ áp nhóm khác, ví dụ: nhóm đối kháng thụ thể angiotensin II (sartan) ít có khả năng gây ho hơn (thường gặp ở 2-4% bệnh nhân). Thông tin này cũng đã được ghi rõ trong hồ sơ bệnh án để tránh việc sử dụng IEC cho bệnh nhân này trong những lần tiếp theo.

    Lưu ý

    Các thuốc IEC gây ho ở khoảng 10% bệnh nhân được điều trị. Cần cân nhắc, phân tích, rà soát một cách có hệ thống các thông tin khi gặp một trường hợp ho khan không rõ nguyên nhân.

    Nguồn :

    1. Antihypertenseurs 13 cas pratiques – Le Moniteur des Pharmacies n° 2673 du 14/04/2007
    2. http://revue.medhyg.ch/print.php3?sid=30474
    Người dịch : SVD5. Dương Khánh Linh, ĐH Dược Hà Nội
    Người hiệu đính. DS. Lê Bá Hải, BM Dược lâm sàng, ĐH Dược Hà Nội
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Đang tải...

Chia sẻ trang này