Kháng sinh VAI TRÒ MACROLIDE TRONG CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH

Thảo luận trong 'Kiến thức cho dược sĩ lâm sàng, thông tin thuốc' bắt đầu bởi hapharm, 2/8/16.

VAI TRÒ MACROLIDE TRONG CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH 5 5 1votes
5/5, 1 phiếu

  1. hapharm

    hapharm Dược sĩ mới

    Mối tương quan giữa kết quả trên kháng sinh đồ và hiệu quả thực tế của kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp
    Tính nhạy cảm của vi khuẩn với một kháng sinh thường được xác định dựa trên nồng độ kháng sinh trong huyết tương so với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của kháng sinh với vi khuẩn. Kết quả này có thể không phản ánh chính xác hiệu quả diệt khuẩn của kháng sinh trong các trường hợp nhiễm khuẩn tại mô.
    Trong nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm phổi và viêm hầu họng, vi khuẩn gây bệnh thường khu trú tại mô. Do đó, kháng sinh phải thâm nhập vào mô (nơi nhiễm khuẩn) để có tác động diệt khuẩn. Nồng độ kháng sinh trong máu cao (kết quả in vitro còn nhạy) nhưng tại mô thấp sẽ không có hiệu quả. Trong khi đó, các kháng sinh có nồng độ tập trung chủ yếu tại mô (như azithromycin) sẽ cho hiệu quả diệt khuẩn tốt dù kết quả vi sinh trên in vitro cho thấy đề kháng do nồng độ kháng sinh trong máu thấp. Đây là điểm khác
    biệt giữa in vitro và in vivo.
    Bên cạnh đó, hiện vẫn chưa có qui luật nào giúp tiên đoán hiệu quả trên lâm sàng dựa vào kết quả vi sinh nhạy hoặc kháng cho các kháng sinh dùng đường uống.Qui luật 90 - 60 chỉ có thể áp dụng để tiên đoán hiệu quả cho các kháng sinh dùng đường tiêm (IV hoặc IM).1
    Trên các cơ sở đó, việc chỉ dựa vào kết quả nhạy cảm hoặc đề kháng trên in vitro để quyết định lựa chọn kháng sinh dùng đường uống cho các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp là không phù hợp, vì không có mối tương quan giữa mức nhạy cảm trên kháng sinh đồ và kết quả trên lâm sàng, nhất là khi mức nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh thường chỉ dựa vào nồng độ kháng sinh trong huyết tương.
    Lợi điểm về dược động của azithromycin:Nồng độ cao và duy trì tại mô
    Azithromcycin là kháng sinh có nồng độ tập trung rấtcao tại các mô hô hấp. Nồng độ azithromycin tại dịch lót biểu mô (ELF) (gấp 13 – 24 lần) và đại thực bào phế nang (AM) (gấp 500 – 1000 lần) cao hơn gấp nhiều lần so với nồng độ trong huyết tương.2,3 Nồng độ cao tại nơi vi khuẩn xâm nhiễm này sẽ giúp azithromycin đảm bảo được hiệu quả diệt khuẩn tốt trong nhiễm khuẩn đường hô hấp.
    Nồng độ cao tại mô hô hấp của azithromycin còn được duy trì kéo dài nhờ thuốc được lysosome ở đại thực bào phóng thích ra liên tục.Bên cạnh đó, azithromycincòn có khả năng điều hòa miễn dịch và chống viêm,góp phần tăng cường hơn nữa tác dụng diệt khuẩn của kháng sinh (Hình 1).4
    Các đặc điểm dược động/dược lực (PK/PD) đặc biệt nêu trên cho phép azithromycin rút ngắn thời gian điều trị (còn 3 – 5 ngày) nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả diệt khuẩn tốt trên lâm sàng.
    Một phân tích tổng hợp từ 13 nghiên cứu pha 3 trên1,127 bệnh nhân bị nhiễm khuẩn hô hấp mắc phải ở cộng đồng (gồm viêm xoang cấp, viêm tai giữa cấp,đợt cấp viêm phế quản mạn tính và viêm phổi cộng đồng) cho thấy tỷ lệ thành công trên lâm sàng khi dùng azithromycin vẫn được đảm bảo trên cả tác nhân gây bệnh là S. pneumoniae còn nhạy cảm (89.4%) lẫn đề kháng (78.6%) với azithromycin. Hơn nữa, cả 3 phân nhóm có mức đề kháng thấp (MIC 2 - 8 mg/L), cao (MIC ≥ 16 mg/L) và rất cao (MIC ≥ 64 mg/L) đều không khác biệt nhau về tỷ lệ thành công trên lâm sàng khi được điều trị bằng azithromycin (Bảng 1).4
    Sự khác biệt về tỷ lệ thành công trên lâm sàng giữa 2 nhóm bệnh nhân nhiễm S. pneumoniae nhạy và kháng với azithromycin cũng không đáng kể ở phân nhóm các bệnh nhân viêm phổi cộng đồng (p = 0.631) và đợt cấp viêm phế quản mạn tính (p = 0.986).4
    Vai trò của azithromycin trong các hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp
    • Viêm phổi cộng đồng
    Viêm phổi cộng đồng (CAP) là một nhiễm khuẩn có tỷ lệ tử vong cao (1 - 23% trong vòng 30 ngày và 40%
    trong vòng 1 năm), đặc biệt là ở những bệnh nhân caotuổi (≥ 65 tuổi) hoặc có bệnh mắc kèm (như COPD –bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hút thuốc lá, bệnh lý tim mạch,…).5,6
    Tùy theo bệnh cảnh và tác nhân gây bệnh, bệnh nhân bị viêm phổi cộng đồng có thể chỉ cần điều trị ngoại trú, hoặc cần phải nhập viện, thậm chí có thể phải nhập cả ICU. Kháng sinh được lựa chọn để điều trị cho các bệnh nhân này thường theo kinh nghiệm.Trong đó, macrolide được khuyến nghị cho bệnh nhân ở nhiều mức độ khác nhau (Bảng 2).7
    Trong các macrolide, azithromycin cho thấy có hiệu quả tốt, giúp làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong tại bệnh viện so với điều trị bằng các kháng sinh khác(5.6% so với 23.6%, p < 0.001) (Hình 2).8
    • Viêm xoang cấp
    Điều trị bằng kháng sinh là cần thiết trong viêm xoang cấp do vi khuẩn để giúp bệnh nhân cải thiện và phục hồi tốt (tỷ số chênh so với giả dược OR 1.64, khoảng tin cậy [CI] 95% 1.35 - 2.00).9
    Tuy vậy, việc xác định tác nhân gây bệnh trong viêm xoang cấp bằng vi sinh thường không dễ thực hiện, bệnh nhân thường được đánh giá dựa vào các tiêu chí trên lâm sàng để khởi trị kháng sinh. Nếu bệnh nhân có cả5 đặc điểm: chảy mủ trong mũi, nước mũi có màu xanh
    hoặc vàng, đau vùng hàm trên, đáp ứng kém với thuốc chống sung huyết mũi, soi xoang thấy có dấu hiệu của viêm nhiễm, thì khả năng bệnh nhân bị viêm xoang do vi khuẩn là 92%.10 Bên cạnh đó, nếu bệnh nhân có triệu chứng kéo dài > 10 ngày, triệu chứng nặng (như sốt cao> 39oC, chảy mủ trong mũi, đau vùng mặt) khi khởi phát và đã kéo dài ≥ 3 ngày liên tiếp, hoặc triệu chứng trở nên nặng hơn sau 5 ngày có biểu hiện điển hình của nhiễm virus, thì cũng nên dùng kháng sinh để điều trị.11
    Hiện có nhiều kháng sinh được khuyến nghị trong điều trị viêm xoang cấp. Trong đó, azithromycin có hiệu quả tương đương nhưng dùng ngắn ngày hơn các kháng sinh khác.12 Điều này cũng đã được khẳng định trong sách giáo khoa về điều trị nhiễm khuẩn (Bảng 3).13
    • Bên cạnh đó, viêm họng cấp và viêm tai giữa cấp
    cũng là các nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp.So với các kháng sinh dùng đường uống khác để điều trị viêm họng cấp và viêm tai giữa cấp do vi khuẩn,azithromycin không chỉ có hiệu quả điều trị 2 loại nhiễm khuẩn này tương đương (Hình 3), mà còn có thêm nhiều ưu điểm khác như ít tác dụng ngoại ý, ít nguy cơ gây dị ứng, và đặc biệt là chỉ cần dùng đơn liều trong khoảng thời gian ngắn (≤ 5 ngày), nên giúp giảm được chi phí điều trị và tăng mức tuân thủ điều trị của bệnh nhân.12,14
    Tóm lại, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới là rất phổ biến. Một số trường hợp bệnh nhân ngoại trú cần được điều trị bằng kháng sinh, nhưng phải thận trọng để tránh lạm dụng kháng sinh (nhất là trong các trường hợp có tác nhân gây bệnh là virus)nhằm hạn chế đề kháng kháng sinh. Vì vậy, việc xây dựng các tiêu chuẩn chặt chẽ để xác định các đối tượng bệnh nhân cần điều trị bằng kháng sinh là rất cần thiết. Trong số các kháng sinh được lựa chọn để điều trị nhiễm khuẩn hô hấp, azithromycin có nhiều ưu điểm như xâm nhập vào các mô nhiễm khuẩn ở đường hô hấp tốt (nồng độ tại mô hô hấp cao hơn nồng độ trong huyết tương gấp nhiều lần), thời gian tác động dài, có khả năng điều hòa miễn dịch và dung nạp tốt. Các đặc điểm này giúp azithromycin chỉ cần dùng ngắn ngày (3 – 5 ngày) là đã có hiệu quả tốt như các kháng sinh dùng dài ngày khác. Điều này có ý nghĩa rất lớn vì sẽ giúp gia tăng sự tuân thủ điều trị, tăng hiệu quả, giảm tác dụng ngoại ý và hạn chế đề kháng kháng sinh.
    Xem bản đầy đủ tại: https://view-api.box.com/1/sessions/14cdb108c59847788058f87c3298dbe0/view?theme=dark
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Đang tải...
: azithromycin

Chia sẻ trang này